Da Vinci Academy logo - Kiến thức chứng khoán cơ bản
Các chỉ báo trong đầu tư

Chỉ báo trong đầu tư tài chính và cách sử dụng chỉ báo

Chỉ báo trong đầu tư tài chính và cách sử dụng chỉ báo

Có rất nhiều chỉ báo được sử dụng trong phân tích kỹ thuật, dưới đây là 2 chỉ báo quan trọng được sử dụng nhiều nhất.

1. Đường trung bình động (MA):

+ MA là viết tắt của Moving Average. Nó cũng là một dạng đồ thị đường bằng cách làm mượt giá để mọi người dễ quan sát và sử dụng như là một công cụ dự báo, xác định hỗ trợ, kháng cự.
+ MA càng nhỏ thì càng bám sát đồ thị nến. MA10 thì sẽ sát hơn MA20, MA20 thì sát hơn MA30…
+ MA càng nhỏ thì khả năng bị nhiễu càng cao và dễ bị tác động hơn đường MA lớn. MA10 dễ bị nhiễu hơn MA20, MA20 bị nhiễu hơn MA50…
+ Có một số loại đường trung bình động như đường trung bình động đơn giản (SMA) hay đường trung bình động hàm số mũ (EMA).
– Cách tính đường trung bình động SMA
+ SMA được tính bằng cách lấy trung bình giá đóng cửa của N cây nến trong 1 khung thời gian nhất định.
Hình 1: Tính giá trị của SMA10 tại ngày 11/8 Giá cổ phiếu HPG từ ngày 29/07/2022 đến ngày 11/08/2022

SMA 10 = (tổng của giá đóng của của 10 phiên trước đó)/10= (21.5+22.8+22.9+23.75+23.65+23.3+23.6+24.1+23.8+23.4)/10=23.28

– Đường trung bình MA sử dụng như thế nào?
+ MA là công cụ thể hiện xu hướng của thị trường
Hình 2: Xu hướng tăng
* Ở biểu đồ ‘’a’’ đường MA10 hướng lên cho thấy xu hướng VNINDEX đang hướng lên * Ở biểu đồ ‘’b’’ có sự khác biệt là sự xuất hiện của MA20 cũng hướng lên và đặt biệt MA10 cắt MA20 hướng lên thể hiện xu hướng tăng mạnh mẽ hơn việc chỉ có MA10 ở biểu đồ a. Lúc này cân nhắc mua vào.
Hình 3: Xu hướng giảm
* Tương tự ở xu hướng tăng thì ở biểu đồ ‘’a” khi MA10 hướng xuống thì là xu hướng giảm * Ở biểu đồ ‘’b’’ MA10 cắt MA20 hướng xuống khẳng định xu hướng giảm mạnh mẽ hơn. Và những lúc như vậy cân nhắc bán ra.
Hình 4: Xu hướng sideway
* Các đường trung bình MA đi ngang và cắt lên xuống liên tục không rõ xu hướng. Giai đoạn này tốt nhất hạn chế mua bán đợi tới khi xu hướng rõ ràng.
+ MA là công cụ xác định vùng kháng cự-hỗ trợ của xu hướng
Hình 5: Hỗ trợ
* Trong xu hướng tăng sau khi giá giảm chạm vào các đường trung bình MA10 MA20 MA50… thì sẽ có xu hướng bật lên tăng trở lại thì gọi là vùng ‘’Hỗ Trợ’’.
Hình 6: Kháng cự
* Trong xu hướng giảm sau khi giá tăng chạm vào các đường trung bình MA10 MA20 MA50… thì sẽ có xu hướng giảm xuống tiếp trở lại thì gọi là vùng ‘’Kháng cự’’.
Lưu ý:
* Khi đường giá cắt qua các hỗ trợ hay kháng cự tạo bởi các đường MA, nó cũng là chỉ báo khả năng thay đổi xu hướng tăng hay giảm hiện tại.
* Tùy theo quan điểm đầu tư và mức độ chịu rủi ro của mỗi người sẽ chọn sử dụng các đường MA khác nhau. Nếu đánh lướt sóng sử dụng MA5-MA10-MA20, đánh trung hạn thì MA20-MA50-MA100, dài hạn hơn thì MA100-MA150-MA200…
* Mặc dù đường trung bình MA là chỉ báo quan trọng và thông dụng của phân tích kỹ thuật nhưng để đạt được sự thành công trong đầu tư thì chúng ta nên kêts hợp với những chỉ báo khác cũng như yếu tố như tình hình vĩ mô nền kinh tế, quản trị vốn & tâm lý…
Sau khi đọc tới đây mình tin rằng mọi người đã có thể trả lời được câu hỏi ở đầu bài. Hy vọng bài viết này sẽ đóng góp được phần nào cho mọi người và đặc biệt là nhà đầu tư mới có góc nhìn rõ hơn về đường trung bình động. Xin chân thành cảm ơn!

2. MACD là gì?

MACD là cách viết tắt của cụm từ Moving Average Convergence Divergence có nghĩa Trung bình động hội tụ phân kỳ. Đường MACD là chỉ báo kỹ thuật được tạo ra bởi cố vấn đầu tư chuyên nghiệp Gerald Appel vào năm 1979.
Chỉ báo này giúp cung cấp các biến động của thị trường, hỗ trợ nhà đầu tư chứng khoán xác định tín hiệu mua bán của thị trường. Để xác định đường MACD, nhà đầu tư cần dựa vào độ chênh lệch của hai đường trung bình động (EMA) 12 ngày và 26 ngày.

Cách tính MACD

Công thức để xác định chỉ báo MACD là:
MACD = EMA (12) – EMA (26)
  • MACD sẽ mang giá trị dương khi giá trị trung bình trượt chu kỳ 12 ngày lớn hơn giá trị trung bình trượt chu kỳ 26 ngày.
  • MACD sẽ có giá trị âm khi giá trị trung bình trượt chu kỳ 12 ngày nhỏ hơn giá trị trung bình trượt chu kỳ 26 ngày.

Các thành phần cấu tạo nên chỉ báo MACD

MACD là gì? – Chỉ báo MACD được cấu tạo từ bốn thành phần chính là đường MACD, đường tín hiệu, biểu đồ và đường zero. Mỗi thành phần lại mang đặc điểm và ý nghĩa khác nhau.
  • Đường MACD có vai trò xác định xu hướng giá của thị trường, giá trị của nó được tính bằng hiệu số của hai đường trung bình hàm mũ EMA (12) và EMA (26).
  • Đường tín hiệu Signal cũng chính là đường EMA (9) của đường MACD. Khi hai đường này phối hợp cùng nhau là lúc chúng dự báo một xu hướng đảo chiều sắp diễn ra và các nhà đầu tư nên tận dụng thời điểm này để thực hiện giao dịch một cách có lợi nhất.
  • Biểu đồ Histogram là biểu đồ thể hiện sự phân kỳ và hội tụ nhờ xác định độ chênh lệch giữa đường MACD và đường tín hiệu.
  • Đường Zero đóng vai trò là đường tham chiếu giúp nhà đầu tư đánh giá xu hướng thị trường mạnh hay yếu.

Cách nhận biết đường MACD trên biểu đồ chứng khoán

  • Cách đơn giản nhất để nhà đầu tư nhận biết được đường chỉ báo MACD là nhờ vào màu sắc, cụ thể đường MACD có màu xanh, còn đường tín hiệu sẽ có màu đỏ.
  • Khi MACD mang giá trị dương thì khi đó đường EMA ngắn sẽ nằm trên đường EMA dài. Đường EMA ngắn càng xa đường EMA dài bao nhiêu càng chứng tỏ đường MACD có mức tăng giá trị dương lớn bấy nhiêu, đây chính là tín hiệu cho động lực tăng của thị trường.
  • Ngược lại, Khi MACD có giá trị âm thì đường EMA ngắn sẽ nằm phía dưới đường EMA dài. Khoảng cách giữa hai đường EMA càng lớn thì mức tăng của giá trị âm cũng càng lớn. Đây chính là tín hiệu cho một xu hướng giảm rất rõ rệt sắp xảy ra.
  • Tùy vào vị trí và sự chuyển động của các đường EMA mà mối tương quan của chúng sẽ ở dạng phân kỳ hay hội tụ. Khi hai đường chuyển động ra xa là diễn ra sự phân kỳ, hai đường chuyển động lại gần thì đó là hội tụ.

Cách sử dụng MACD trong giao dịch đầu tư chứng khoán

Có nhiều cách sử dụng MACD phổ biến như sau: điểm giao cắt, vùng quá mua/quá bán và phân kỳ.
  • Điểm giao cắt: Cách sử dụng cơ bản của MACD là bán khi MACD giảm xuống dưới đường tín hiệu. Tương tự, tín hiệu mua xuất hiện khi MACD tăng lên trên đường tín hiệu. Tín hiệu mua/bán cũng xuất hiện khi MACD tăng lên trên/giảm xuống dưới mức 0.
Đường MACD (màu xanh) đi xuống dưới đường tín hiệu (màu đỏ).
  • Quá mua/ Quá bán. MACD cũng rất hữu ích khi được sử dụng như là một chỉ báo quá mua/quá bán. Khi đường trung bình động ít ngày đột ngột mở rộng khoảng cách so với đường trung bình động nhiều ngày (tức là MACD tăng), lúc đó giá cổ phiếu tăng quá mức và sẽ sớm quay trở về giá hợp lý. Vùng quá mua/quá bán theo MACD của mỗi chứng khoán là khác nhau.
  • Phân kỳ: Một dấu hiệu cho thấy xu hướng hiện tại sắp kết thúc là khi MACD phân kỳ với giá chứng khoán. Phân kỳ giá xuống xuất hiện khi MACD tạo đáy mới còn giá thì không. Phân kỳ giá lên xuất hiện khi MACD xác lập đỉnh mới còn giá thì không. Cả hai phân kỳ giá lên và giá xuống này đều cho tín hiệu đáng tin cậy nhất khi xảy ra tại vùng quá mua/ quá bán.
Xu hướng giá và đường MACD tạo ra phân kỳ.
Xu hướng giá và đường MACD tạo ra hội tụ.
Giao dịch khi Histogram chuyển từ dương sang âm và ngược lại
Công thức tính:
Histogram = Đường MACD – Đường Signal
  • Dựa vào công thức có thể thấy, khi đường Histogram chuyển từ đỏ sang xanh là biểu hiện của thị trường đang tăng điểm, lúc này nhà đầu tư nên đặt lệnh mua.
  • Ngược lại, khi đường Histogram chuyển từ dương sang âm (từ màu xanh chuyển sang màu đỏ) thì nhà đầu tư nên đặt lệnh bán.
Kết hợp các chỉ báo MACD cùng mô hình nến đảo chiều
Đây được đánh giá là các áp dụng mang đến hiệu quả cao nhất trong các cách giao dịch với chỉ báo MACD. Cụ thể, nhà đầu tư có thể dựa vào các yếu tố sau để xem xét đặt lệnh bán:
  • Khi xu hướng tăng kéo dài, tạo ra các đáy và các đỉnh cao liên tiếp nhau.
  • Phân kỳ diễn ra Sau khi mô hình nến Doji được hình thành thì xuất hiện phân kỳ.
  • Xuất hiện đồng thời nến đảo chiều tại đỉnh.
Khi cả ba hiện tượng này đồng thời xảy ra chứng tỏ bên mua đang muốn đẩy giá cao nhưng bên bán lại đang có vị thế áp đảo họ nên bên mua không thể tiếp tục đẩy giá.

Sử dụng kết hợp MACD cùng các chỉ báo khác

MACD kết hợp với chỉ báo Stochastic

Chỉ báo Stochastic là một chỉ báo động lượng được phát minh bởi tiến sĩ George Lane – nhà kinh doanh chứng khoán và phân tích kỹ thuật nổi tiếng vào những năm 1950, cho đến ngày nay chỉ số này vẫn được các nhà đầu tư sử dụng phổ biến và đánh giá đây là một công cụ phân tích kỹ thuật hiệu quả.
Stochastic có nhiệm vụ đo lường động lượng của giá, nói một cách cụ thể hơn là so sánh giá đóng cửa của một cổ phiếu với phạm vi giá của cổ phiếu đó trong khoảng thời gian nhất định. Chỉ báo Stochastic luôn có sự thay đổi hướng trước giá và dao động dựa trên cơ sở:
  • Khi giá tăng, giá đóng cửa có xu hướng tiến gần lên biên trên của một khung giá.
  • Khi giá giảm, giá đóng cửa có xu hướng tiến gần xuống biên dưới của một khung giá.
Việc kết hợp Stochastic và MACD giúp nhà đầu tư có những đánh giá chính xác hơn về thị trường. Stochastic có thể so sánh giá đóng cửa của một cổ phiếu với phạm vi giá của nó trong một khoảng thời gian nhất định còn MACD lại được hình thành từ hai đường trung bình động để tạo ra phân kỳ/hội tụ. Từ đó, việc kết hợp hai chỉ báo này giúp nhà đầu tư có thể xác định trước xu hướng giá thay đổi cũng như thời điểm giá đảo chiều chính xác hơn, chi tiết hơn:
  • Khi chỉ báo kết hợp giữa Stochastic và MACD cao trên mức 10 thể hiện tín hiệu quá mua.
  • Ngược lại, khi chỉ báo kết hợp giữa Stochastic và MACD thấp xuống dưới -10 sẽ thể hiện tín hiệu quá bán.

Kết hợp MACD với chỉ báo RSI

Đường MACD được dùng để đo lường mối quan hệ giữa hai đường EMA trong khi RSI đo lường sự thay đổi giá trong thời gian gần. Hai chỉ số này khi được kết hợp sẽ cung cấp cho các nhà phân tích một cái nhìn toàn cảnh và đầy đủ hơn về thị trường chứng khoán.
Trên thực tế, cả hai chỉ số MACD và RSI đều đo lường động lượng trên thị trường nhưng các yếu tố đo lường chúng hướng đến lại khác nhau nên đôi khi các chỉ báo chứng đưa ra cũng trái ngược nhau. Tuy nhiên, khi tín hiệu của cả hai đồng nhất thì mức độ tin cậy của chúng rất cao, nhà đầu tư có thể yên tâm giao dịch khi nhận được các tín hiệu này.
Có thể nói, MACD và RSI là hai chỉ báo bổ sung thông tin cho nhau. Trong khi RSI hỗ trợ dự đoán về xu hướng giá để nhận biết điểm quá mua hay quá bán thì MACD giúp nhận biết được xu hướng giá và tìm kiếm điểm vào lệnh một cách chính xác.

Một số hạn chế của chỉ số MACD

Dù đóng vai trò quan trọng và ứng dụng khá hiệu quả trong việc xác định xu hướng hay cung cấp thông tin về thị trường để đưa ra phân tích kỹ thuật hợp lý, tuy nhiên, chỉ báo MACD vẫn tồn tại một vài hạn chế dưới đây:
  • Sự phân kỳ/hội tụ có thể báo hiệu được dấu hiệu đổi chiều nhưng lại không thể tránh khỏi những báo hiệu giả gây nhầm lẫn và tổn thất cho nhà đầu tư.
  • Mỗi nhà đầu tư có thể cài đặt các chỉ số liên quan đến MACD theo sở thích và mục đích khác nhau nên số liệu thu được cũng phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người sử dụng, do đó kết quả đường MACD đem lại cũng sẽ kém thực tế hơn.
  • Các chỉ số MACD dễ xảy ra sự trễ nhịp giao nhau giữa các trung bình động, từ đó dẫn đến việc đưa ra các tín hiệu cũng chậm hơn so với xu thế của thị trường.
Chỉ báo MACD chỉ được sử dụng hiệu quả khi nhà đầu tư có sự nhạy bén với thị trường và nắm được khung thời gian phù hợp nhất. Để làm được điều đó, nhà đầu tư cần nhiều trải nghiệm, học hỏi, lắng nghe tư vấn và chia sẻ từ các chuyên gia để rút ra được bài học cho bản thân. Hi vọng với bài viết ở trên có thể giúp bạn nhiều hơn trong việc xác định xu hướng tăng hay giảm và chọn điểm mua vào hay bán ra hợp lý.

Leave A Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

YÊU CẦU THAM GIA CỘNG ĐỒNG ĐẦU TƯ DA VINCI ĐÀ NẴNG

Điền thông tin đăng ký tham gia cộng đồng để nhận được những thông tin chuẩn và hữu ích về thị trường tài chính trong nước và quốc tế!